Bát Nhã thân yêu
Nhạc và lời: Thầy Pháp Niệm
Trình bày: Thầy Pháp Niệm

Cùng bước đi trên con đường hiểu thương
Rừng Phương Bối anh em nguyện đắp xây
Tình đệ huynh giữa cuộc đời nhân thế
Đưa người khắp chốn ra khỏi rừng mê.

Đây Bát Nhã thân yêu
Có những người mang trong trái tim tình thương lớn,
Mang trong trái tim đại nguyện
Nguyện sống bên nhau xây cõi Tịnh chốn này.

Đây Bát Nhã thân yêu
Có mây giăng sớm chiều,
Tiếp mưa nguồn, vũ khúc nhạc vô sinh.

Cùng bước đi trên con đường hiểu thương,
Rừng Phương Bối anh em nguyện khắc ghi
Lời nguyện xưa quyết một lòng chung sống
Dù gian khó ta quyết không sờn lòng.

Đây Bát Nhã thân yêu
Tiếng chuông ngân sớm chiều
Phá tan đi bao ưu phiền, thù hận, tủi hờn
Đưa người về chốn bình an.

Đây Bát Nhã thân yêu
Anh em ta cùng vui sống
Cùng về chốn bản môn
Trao cho nhau thương yêu ngập tràn.

Cùng nắm tay ta xây dựng Tăng Thân
Lục hòa chánh pháp chư Bụt đã trao
Nguyện ngày an đêm sống trong nguồn tinh tấn
Làm nơi nương náu cho muôn người về đây.



Jataka Tales - The Monkey Stories
Here's an illustrated Jataka Tale - A Monkey Story 

This illustrated Jataka is based on a collection of five hundred and fifty stories. They are tales in which the life of the Bodhisattva (the Buddha-to-be) in his previous births are narrated. The Bodhisattva is one, who by performing virtuous, kind and intelligent acts, aspires to become a Buddha. The Jataka Tales are based on folklore, legend and ballads of ancient India. They are very popular in the Buddhist world. These stories have been translated almost in all the languages of the Buddhist countries such as Chinese, Vietnamese, Tibetan, Singhalese, Thai, Burmese, Korean and Japanese.






















Lesson 16
Very Strange Hermits
The Ascetics’ Forest was a spacious, wooded area where many hermits and holy men lived.  They practiced many different spiritual disciplines, all of which were very strange indeed.  Some worshipped the sun, others venerated water or fire.  Some dressed themselves only in leaves and slep on a bed of thorns, others keep silent for days on end…These hermits believed that by punishing their bodies in this life, after death they would be reborn into a world of bliss and be happy forever…
 
Although Siddhartha was a newcomer to the Forest, he did not hesitate to show these strange hermits that their aims and harsh practices were mistaken.  They might attain paradise and find happiness during the period of one life-span, but they would inevitably fall back into the infinite cycle of birth and rebirth.  When their happiness in paradise was spent, they would continue on the never-ending path of birth and death.
 
To escape from the cycle of rebirth and attain happiness forever, the only way is to purify oneself and eliminate all greed, hatred and lust.  This is the fundamental objective of Buddhism.
 
BÀI 16
NHỮNG NGƯỜI TU ĐẠO KỲ QUÁI
Khổ hạnh lâm là một khu rừng lớn rộng,trong đó có rất nhiều người tu đạo khác nhau, nhưng đều  là những cách tu khổ hạnh kỳ quái: người thì lạy mặt trời, lạy nước, lạy lửa, có người thì mặc áo bằng lá cây và nằm trên chông gai, người thì suốt ngày không nói một lời ... Họ cho rằng hôm nay hành hạ thân xác như vậy, ngày sau, khi chết sẽ được sanh lên Thiên đưòng sung sướng mãi mãi.Tuy mới đến, nhưng Tất Đạt Đa không ngần ngại nói với những người tu khổ hạnh ấy về mục đích và phương pháp tu sai lầm của họ. Vì lẽ, dù được lên Thiên đường chẳng qua cũng chỉ hưởng thụ khoái lạc một đời, một giai đoạn, nhưng vòng luân hồi của sanh mạng thì vô cùng, nên khi hết phước báo ở cõi trời lại tiếp tục con đường sinh tử vô tận.Muốn ra khỏi luân hồi, an vui vĩnh viễn thì  phải tu học để đoạn trừ sạch tham lam, sân hận và si mê. Đó là mục đích chính của Phật giáo.


Lesson 15
The Prince becomes a Monk
Siddhartha began to see that the world was like a burning house, consumed by the flames of birth, old age, sickness and death.  Everyone, whatever their rank or birth, could fall victim to these afflictions at any moment.  The Prince decided that he must give up his princely life and leave home to search for a way to conquer all suffering and discover the means of salvation for himself and for the world.
 
So one night, when the whole palace was plunged in a deep sleep, Siddhartha summoned Channa, his companion, and Kanthaka, his faithful horse, and  slipped silently out of the citadel…

 
Before he rode off into the night, the Prince wished all his loved ones happiness and made this vow.  “Until I discover the way to overcome all suffering, I shall not return to this fair palace.”
From then on, Siddhartha began his life as wandering ascetic.  He was then twenty nine years old.
 
Bài 15
THÁI TỬ XUẤT GIA
Tất Đạt Đa cảm thấy thế gian giống như một ngôi nhà đang cháy mà các nỗi khổ sanh, già, bệnh và chết chính là ngọn lửa lớn đốt thiêu. Người đời, bất cứ ai, lúc nào cũng đều có thể bị các thứ khổ ấy bức bách, não hại. Do đó, Thái tử quyết định xuất gia tầm đạo, học tập phương pháp thoát khổ để cứu mình cứu người.Thế rồi, một hôm hoàng cung đang chìm trong đêm vắng, Tất Đạt Đa đã cùng người hầu cận là Xa-Nặc và con ngựa kiền- trắc lặng lẽ vượt hoàng thành ra đi...Trước khi lên đường, Thái tử thành khẩn chúc phúc cho tất cả thân nhân và thề rằng:Nếu không thành Đạo, ta không bao giờ trở lại hoàng cung."Từ đây Tất Đạt Đa dấn thân vào cuộc đời khổ hạnh. Bấy giờ Ngài 29 tuổi.


Lesson 14
The Prince’s Vow
When he returned from his journey to the city gates, Siddhartha began seeking out quiet places in the palace or park to meditate alone and think of ways to search for anend to all suffering.
 
One day, the Prince went to his father, the King, and asked permission to leave the palace and become a holy man.  King Suddhodana refused. Siddhartha pleaded with him: “O father, can you save me from the sufferings of birth, old age, sickness and death? If not, please let me leave home and seek deliverance from  suffering!”
 
Fearing that the Prince would try to escape from the palace to carry out his vow, King Siddhodana summoned five hundred extra guards to keep watch day and night, and began preparations fro Siddhartha to succeed him on the throne within the next seven days.
 
BÀI 14
CHÍ NGUYỆN CỦA THÁI TỬ
Sau khi đã đi dạo bốn cửa  thành, trong vương cung, ngoài thượng uyển, Tất Đạt Đa thường tìm một nơi thật vắng vẻ trong đó để tĩnh tọa và nghĩ về việc học đạo.Một hôm, Thái tử tâu xin phụ vương đi xuất gia học đạo. Vua Tịnh Phạn không cho.Tất Đạt Đa tiếp tục khẩn cầu:"Kính thưa phụ vương, phụ vương có thể làm cho con thoát khỏi các nỗi khổ triền miên là sanh, gìa và chết không? Nếu không thì xin cha vui lòng cho con được đi xuất gia học đạo!"Thế rồi, vì sợ Thái tử trốn đi theo chí nguyện của mình, nên một mặt vua Tịnh Phạn cho tăng cường thêm 500 binh sĩ ngày đêm canh gác trong cung, mặt khác chuẩn bị, trong vòng 7 ngày sẽ đưa Thái tử Tất  Đạt Đa lên ngôi vua.


Lesson 13
The Prince Visits the Four City Gates
(continue)
Last of all, Siddhartha went to the city’s North Gate.  As he was resting in the shade of a tree, a holy man dressed in simple robes, with a solemn and serene appearance came up to the Prince and said: “I am someone who is seeking the truth.  I try to live a pure, good life and commit no evil deeds.”
What is so good about seeking the truth?”
Siddhartha asked the holy man.
“If you are successful in seeking the truth, you can destroy all sufferings such as birth, old age, sickness and death, and attain happiness and freedom forever,” replied the holy man. Siddhartha was overjoyed by these words, and swiftly bowed down in thanks to the holy man.


 
BÀI 13
THÁI TỬ DẠO BỐN CỬA THÀNH ( Tiếp)
Sau hết Tất Đạt Đa ra dạo thành phiá bắc. Trong lúc Thái tử đang ngồi hứng mát dưới gốc cây thì một đao sĩ ăn mặc giản đơn, thái độ trang nghiêm, nhã nhặn đến trước mặt Thái tử và nói:
"Tôi là người học đạo, đang tập làm tất cả việc lành, bỏ hết thảy việc ác.""Học đạo có gì hay?" Tất Đạt Đa hỏi vị đạo sĩ."Nếu học đạo thành công có thể đoạn trừ được các khổ não: Sanh, gìa, bệnh và chết và đi tới cảnh an vui, tự do đời đời," vị đạo sĩ trả lời.Nghe vậy, Tất Đạt Đa hết sức vui mừng và liền đến trước đạo sĩ cung kính bái tạ.


Lesson 12
The Prince Visits the Four City Gates
As the prince drove out of the East Gate, he met and old man.  The man’s hair was completely white.  He had hardly an teeth and his face was covered with wrinkles.  Eh leaned on a stick and his bent body trembled as he walked slowly along. The charioteer told Siddhartha:  “This is an old man.”
 
At the South Gate, the Prince saw a sick person lying by the side of the road, moaning as if on the point of death. His servant said: “This is a sick man.  Any one of us could fall sick like him at any moment.  It can happen to anyone.”
 
At the West gate, Siddhartha saw a funeral procession.  The death person’s relatives were weeping and lamenting piteously. His servant said:  “Death is end of life.  There is nothing anyone can do to avoid this.” Siddhartha was plunged in sadness.  He realized that birth, old age, sickness and death were part of a natural law.  All living beings were subjected to this  law, and no-one had ever been able to change it.  No-one, not even the king, could escape or save others from these four terrible misfortunes.
 
BÀI 12
THÁI TỬ RA ĐẠO BỐN CỬA THÀNH
Ngoài thành, ở cửa đông, Thái tử bắt gặp một cụ gìa, đầu tóc bạc phơ, răng rụng gần hết, mặt đầy vết nhăn, tay chống gậy, vưà đi vừa run.Người đánh xe thưa với Tất Đạt Đa:"Đây là người gìa."Ở cửa nam, Thái tử trông thấy một người ốm yếu, rên rỉ, nằm thở thoi bên đường.Người hầu thưa: "Đây là người bệnh và ai cũng có thể trở thành người bệnh, bất cứ lúc nào, chẳng ai biết trước được."Ngoài cửa tây, Tất Đạt Đa thấy một đám ma, thân nhân người chết gào khóc hết sức thê thảm.Người hầu thưa: "Chết là sự kết thúc sau cùng của đời người mà không một ai tránh thoát."Tất Đạt Đa vô cùng buồn bã khi nhận rõ rằng: sanh, lão, bệnh và tử là (một) định luật tự nhiên của một loài mà xưa naykhông ai thay đổi được. Vì thế, dù ta có làm vua đi nữa cũng không sao cứu mình và người ra khỏi 4 khổ nạn ấy!


Lesson 11
A Visit to the People
Siddhartha sat watching this ruthless struggle for survival and observed how all living beings hurt and kill each other.  Pity welled up in his heart, and he fell  into deep thought, looking for a way to end all sufferings on the earth.
 
Siddhartha was keenly interested in the daily lives of his people, so one day he went on a visit around the city.  All the people came out excitedly to greet him.  Some shouted out joyously and others, joining their hands and bowing low, wished the Prince happiness and good fortune.  The little children clapped gleefully and cried:  “Look, the Prince is here!  The Prince is here at last!”
 
Siddhartha was deeply moved by his people’s welcome, and thought to himself: “I must seek every means to improve each person’s life, create a peaceful society and make sure that my people are always happy and well-fed.” But the Prince wanted to know even more about his people’s daily lives, so he asked his charioteer to drive him outside the citadel’s East Gate.
 
BÀI 11
ĐI THĂM DÂN
Vì rất quan tâm tới đời sống nhân dân, nên Tất Đạt Đa đã thân hành đi thăm viếng dân gian và và được mọi người đón rước: nhóm người nầy rải hoa, nhóm kia cung kính hoan hô, nhóm nọ chấp tay, cúi đầu chúc phúc lành. Trong khi đó, nhiều đám trẻ con thì vừa vỗ tay vừa la lớn: "Thái tử đến, Thái tử đã đến rồi!"Tất Đạt Đa vô cùng cảm động, vẫy tay chào nhân dân và thầm nguyện: "Bằng mọi cách ta phải cải thiện đời sống của mọi người, để xã hội thái bình, đểû nhân dân được ấm no hạnh phúc."Vì muốn hiểu hơn về đời sống nhân gian nên Thái tử đã bảo người đánh xe đưa Người ra dạo cửa thành phía đông.










Lesson 10
The Farmlands
In the sweltering heat, with the sun beating down on his bare back, the farmer toiled in the fields with the ox and plough, his body running with sweat. The ox labored to drag the blade of the heavy plough through the hard, arid earth. Although the beast pulled and strained to his utmost, tears and sweat mingling with his puffing and panting breath, the farmer kept on lashing him with his whip, pressing the ox to work faster. Both man and beast worked hard, each toiling as painfully as the other.  They had no choice, for both had to work to have enough to eat. Birds swooped down in search of food, squabbling and fighting with each other to snatch up the worms, grasshoppers and other insects churned up in the  wake of the plough.

 
BÀI 10
NÔNG THÔN
Dưới ánh nắng chang chang, khi trời nóng bức, bác nông phu mình trần, mồ hôi nhuễ nhại, oằn lưng đi theo sau con trâu đang kéo cày.Trên đám ruông khô cứng, con trâu đang cố sức kéo lê lưỡi cày một cách nặng nhọc.Mặc dù nó đã hết lòng làm việc, mồ hôi, nước mắt, hơi thở hổn hển của nó như đã ttrộn lẫn vào nhau, nhưng vẫn bị bác nông phu đánh đập và thúc hối đi nhanh lên. Không riêng gì trâu mà cả người cũng khổ nhọc không kém, song vì sự sống, họ không còn cách nào khác hơn.Từng đàn chim tranh giành, rượt đuổi, ăn nuốt những trùn, dế, côn trùng trên các luống đất vừa được cày xới.Tất Đạt Đa thấy tận mắt cái cảnh mạnh được yếu thua, chúng sinh ăn nuốt lẩn nhau ấy, Người xót xa khôn tả, và luôn luôn  suy nghĩ tìm tòi phương pháp giải cứu khổ nạn cho thế gian.


Lesson 9
The Great Sports Contest
The Great Sports Contest had begun.  Princes and young noblemen came from all over the kingdom to take part in the contest and measure their strength. In the archery event, Prince Siddhartha used a blow bequeathed to him by his forefathers.  The bow was so heavy that not one of the competitors could  even pull back the string.  Yet Siddhartha not only bent the bow with ease, but he shot the arrow with such strength that it continued to fly until it disappeared into space! By the end of the contest, Prince Siddhartha had outstripped all the other contestants and carried off the championship with ease.  King Suprabuddha, the ruler of a neighboring kingdom, was so impressed by Siddhartha’s outstanding abilities that he agreed to let his daughter Yashodhara become the Prince’s bride.
 
BÀI 9
VẬN ĐỘNG HỘI
Vận động hội quốc tế đã khai mạc, con vua các nước và các quý tộc đều tham gia.Trong mục thi bắn cung, Thái Tử Tất Đa đã dùng chiếc cung do Tổ phụ (ông nội) truyền lại. Và, bấy giờ tất cả các tuyển thủ hiện diện không ai có thể kéo được dây cung, vì quá cứng, nhưng riêng Tất Đạt Đa thì không những kéo một cách dễ dàng mà bắn một mũi tên mất hút vào không trung nữa.Kết quả Tất Đạt Đa tài nghệ hơn người (xuất chúng) và được giải quán quân (nhất).Vua Thiện Giác của một nước gần Ca Tỳ La Vệ rất mến phục tài năng Tất Đạt Đa, nên bằng lòng cho con gái mình là Gia Du Đà La làm vợ Thái Tử.


Lesson 8
Learning Martial Arts
Siddharta was tall and strong, and he loved all kind of sports. So King Suddhodana arranged for a specialist to instruct his son in martial arts. Prince Siddhartha became proficient in horse-riding, archery, wrestling and many other sports thanks to his teacher, Nanda.
By the time he was twelve, Siddhartha was an accomplished master of all the martial arts and he surpassed his opponents in all the competitions. Everyone in the kingdom admired and revered the valiant young Prince for the exceptional bravery he displayed in all he did.  Everyone was convinced  that Siddhartha would be a great help to his father in building Kapilavastu into a powerful and prosperous kingdom.

 
BÀI 8
BÀI TẬP VŨ THUẬT
Tất Đạt Đa thân thể cường tráng, ưa vận đông.Vua Tịnh Phạn mời vũ thuật chuyên gia về cho Thái Tử học tập.Tất Đạt Đa học các môn: cỡi ngưạ, bắn cung, cử tạ...với vũ sư tên Nhẩn Đề Bà.Lúc mới 12 tuổi Tất Đạt Đa đã trở thành một vỏ sĩ anh Dũng: luôn luôn đứng hạng nhất trong các cuộc thi đấu.Được thân nhân cả nước ngưỡng mộ, sùng bái, vì Thái Tử đã tỏ ra dũng cảm phi thường qua nhiều công việc. Do đó, ai nấy đều tin rằng Tất Đạt Đa sẽ  giúp  đở một cách đác lực cho Vua Cha trong việc xây dựng đất nước và Ca Tỳ La Vệ nhất định giàu mạnh.


Lesson 7
Schooldays
When Siddhartha was seven years old, his father, the King, sent for a teacher to take charge of the Prince’s education.His lesson’s covered a wide range of subjects: literature, mathematics, general knowledge and so on…The Prince also learned many subjects usually meant for grown-ups, such as philosophy, medicine and engineering.He was extremely intelligent and eager to learn, and used to press his teacher with profound and penetrating questions.  The Prince thus acquired great knowledge, and progressed rapidly in his studies.  Although Siddhartha was still a child, he became widely acclaimed as a brilliant and erudite scholar, and his reputation spread throughout the land.  Kind Suddhodana was immensely proud of his son, and the Prince’s teachers were unsparing in their praise of this extraordinary pupil.
  
BÀI 7
NHẬP HỌC
Lúc Tất Đạt Đa lên 7, Vua Cha mời một vị thầy đến dạy Thái Tử.Chương trình học gồm có nhiều môn: Văn học, Toán,Thường thức v.v...Ngoài ra còn phải học rất nhiều các môn học của người lớn,như: Triết học, y học và Công trình học...Thái tử vừa thông minh vừa ham học, thường hỏi thầy giáo những vấn đề đầy ý nghĩa. Vì thế, sự hiểu biết của Thái tử khá dồi dào và việt học rất tiến bộ.Tuy còn thơ ấu nhưng Tất Đạt Đa đã vang danh khắp nước, mọi người đều biết Thái tử là một vị bác học đa tài(học rộng nhiều tài. Vua Tịnh Phạn rất hãnh diện về con mình, còn thầy giáo thì không tiết lời ngợi khen về người học trò đặc biệt.


Lesson 6
Wounded Swan
One day as Siddhartha was walking in the garden, a wounded swam fell out of the sky and landed right at the Prince’s feet.  Its wing was pierced by an arrow, and the poor swan trembled with pain.  The Prince ran to the wounded swam and gently picked it up.  He cleaned its wounds with warm water and made a comfortable nest for the swan to lie in.  He even fetched some grains of rice for the swan to eat.
 
After he had looked after the swan attentively for several days, it grew str3ong again and its wounds healed.  Siddhartha took it out to the garden and set it free, watching as the swan soared away into the vast blue skies.


 
BÀI 6
CỨU CHIM BỊ BẮN
Một hôm Thái Tử đang dạo chơi ngoài vườn hoa, thình lình có một con chim trúng phải mũi tên ai bắn và rơi ngay trước mặt Tất Đạt Đa. Con chim bị thương ấy rung rung đôi cánh một cách đau đớn. Thái Tử liền vội  vàng chạy đến bồng nó lên, dùng nước ấm rửa sạch máu nơi vết thương, để chim nằm vào chổ êm ái và lấy ít lúa cho nó ăn.Sau nhiều ngày được Thái Tử chăm nom cẩn thận, chim kia lành mạnh như xưa. Thế rồi Tất Đạt Đa đem ra vườn và thả chim trở về với bầu trời tự do của nó.


Lesson 5
Golden Childhood
Prince Siddhartha was not only a handsome, graceful child, but he was also remarkably intelligent, kind hearted and courteous.  His father, the King, doted on him, and everyone loved and admired the little Prince.
King Soddhadana and Queen Maya showered him with every toy a child could dream of tiny carriages and horses, ships and boats… They also built three magnificent palaces for their son, one for winter, one for summer and one for the rainy season.  The little Prince Siddhartha spent his childhood in the lap of luxury, with all the pleasures and delights one can possibly imagine.



 
BÀI 5
THỜI THƠ ẤU
Thái Tử Tất  Đạt Đa không những tướng mạo anh tuấn mà còn thông minh, vui hòa lễ nhượng. Do đó, Thái Tử được Vua Cha yêu mến vvà mọi người kính trọng.Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia sắm cho Thái Tư ûđủ các loại đồ chơi của nhi đồng, như: xe, ngưa,ï tàu, thuyền...Ngoài ra, còn xây cất cho Người 3 loại cung điện khác nhau: Cung điện dùng về mùa lạnh, mùa nóng và mùa mát.Tóm lại, trong suốt thời thơ ấu Thái Tử Tất Đạt Đa đã an hưởng cuộc sống có thừa khoái lạc, và hạnh phúc.


Lesson 4
Asita’s Predictions
 
On the day the Prince was born, many good omens and signs of peace were seen throughout the land.  King Suddhodana was overjoyed, and named his son “Siddharta” which means “the one whose aim is accomplished”.
There lived in Kapilavastu at t hat time a venerable sage named Asita.  Asita was a hermit who lived in the snowy mountains, and he was known to be a very holy man.  When he heard about the wonderful signs, he came to pay his respects to the new-born Prince.When he saw the infant, Asita gazed at him intently.  Then he made the following prediction:“In the future, if Siddhartha succeeds you on the throne, he will become a great emperor.  But if he chooses to give up the world and seek enlightenment, he is surely destined to become the Buddha, the Fully Englightenment One.”

 
BÀI 4
LỜI ĐOÁN CỦA TIÊN A TƯ ĐÀ
Trong lúc Thái Tử giáng sanh, có rất nhiều điềm lành hiện ra, Vua Tịnh Phạn hết sức vui mừng, nên đặt tên Thái Tử là Tất Đạt Đa, ý nghĩa là thành tựu tốt đẹp.Bấy giờ ở Ca Tỳ La Vệ có một vị đạo nhân, tu lâu ngày trong núi tuyết, tên A Tư Đà, nghe tiếng đồn nên tìm đến và xin được triều kiến (gặp ) Thái Tử.Khi đã gặp, nhìn  kỹ và A Tư Đà dự đoán:"Tương lai, nếu Tất Đạt Đa kế vị (nối ngôi) Vua Cha thì sẽ là bật anh quân, nếu xuất gia học đạo thì chắc chắn dẽ thành Phật."
 


Lesson 3
The Birth of Prince Siddhartha
Just 2,622 years ago, on a clear, sweet morning on the fifteenth day of the fourth month, Queen Maya was strolling in the gardens of Lumbini.  Everything seemed particularly radiant in the gardens that day.  The Mandara flowers glowed with vibrant colors and blossomed more profusely than ever before.
Queen Maya felt her whole body suffused with ineffable joy.  As she raised her right hand to grasp the branch of a shady tree, a miraculous light shone suddenly all around.  It was at once awesome and beautiful, as if a new sun had risen in the sky.  At that very moment, Prince Siddhartha was born.
According to Buddhist scriptures, the newborn Prince stood up at once and walked seven steps, one finger pointing to the sky, the other to the earth, and said: - “I was born for Englightenment, for the good of all that lives”.

 
BÀI 3
THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA GIÁNG SANH
Cách nay 2622 năm, sáng sớm ngày 15 tháng tư, đất trời đượm vẽ trong lành, Hoàng Hậu Ma Gia đang ung dung đi bộ trong vườn Lâm Tỳ Ni. Hình như phong cảnh trong vườn hôm nay đặc biệt tươi đẹp và hoa Vô Ưu cũng nở nhiều hơn. Hoàng Hậu Ma Gia cảm thấy ngập tràn một niềm vui khôn tả và tong lúc Bà đưa tay phải lên vin một nhánh cây, bỗng nhjên bốn bề như bị một thứ ánh sáng nhiệm mầu vừa đẹp đẽ vừa tang nghiêm, gióng cảnh mặt trời mới mộc, bao phủ, chính giây phút ấy  Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời.  Cứ kinh điển Phật Giáo thì khi mới sinh Thái Tử đi 7 bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và nói: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn." (Ta là người đáng tôn qúy nhất trong cõi trttời và người.)


Lesson 2
The kingdom of Kapilavastu
 
Long, long ago, the continent of India was divided into many small kingdoms.  A great river named the Ganges runs through Central India, and over 2,600 years ago, on the banks of the Ganges was a small, prosperous kingdom named Kapilavastu.  At the time, the kingdom was ruled by King Suddhodana.  He was a very wise and enlightened man.  His wife, the good Queen Maya, was as gentle as she was beautiful.
King Suddhodana and Queen Maya both longed to have a son who would someday rule the kingdom in their place.



 
BÀI 2
NƯỚC CA TỲ LA VỆ
Xưa kia trong xứ An Độ chia ra nhiều quốc gia nhỏ. Miền Trung An có một con sông lớn tên sông Hằng, trên 2600 năm ttrước, dọc theo sông Hằng, có một quốc gia giàu mạnh phồn vinh tên là Ca Tỳ La Vệ.Bấy giờ, vị vua nước ấy tên Tinh Phạn. Ngài là   một bậc minh quân.Hoàng Hậu là Ma Gia phu nhân vừa hiền đức vừa mỹ lệ (đẹp).Vua Tịnh  Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia đều khao khát có một đứa con trai để nối dõi tôn đường.


Lesson 1
The Triple Jewel:
Buddha, Dharma and Sangha 
 
Lord Buddha was a truly Holy Man. His personality, his actions and his whole life make him worthy to be an example to each and every one of us.
The Dharma is the teaching of Lord Buddha.  It explains to us the way to stop doing evil and be kind, how to save people from suffering and be helpful to  others.
The Sangha is the community of Buddha’s disciples.  In other words, it is the order of monks and nuns, people who lead a religious life devoted to the study and practice of Buddhism.  Thanks to these people, Buddhism will continue to spread and be passed down from generation to generation.
The Buddha, Dharma and Sangha are called the Triple Jewel.  People who take refuge in the Triple Jewel are healthy, happy and serene, and their joy continues from this life into the next.
 
BÀI 1
TAM BẢO:
PHẬT PHÁP TĂNG
 
Phật bảo là đấng Thánh nhân. Nhân cách, việc làm và sự nghiệp của Ngài đều xứng đáng làm gương mẫu cho tất cả chúng ta. Pháp bảo là những lời dạy bảo của đức Phật. Trong đó bao gồm những phương pháp bỏ ác làm lành, cứu người giúp đời. Tăng bảo là đoàn thể đệ tử  của đức Phật. Nói khác đi, là những người xuất gia  chuyên lo tu học và chuyền bá Phật Pháp để làm cho Phật Giáo còn mãi trên đời này.  Người tín ngưỡng Tam Bảo thì thân tâm mạnh khỏe, an vui, đời này và kiếp sau đều được sung sướng, hạnh phúc.











Nếu dịch thật sát nghĩa thì tựa của bài viết này phải là Sự chiến thắng hay Sự vinh quang của một tôn giáo không thờ trời. Tuy nhiên chúng ta nên hiểu rằng Phật giáo từ nguyên thủy chỉ là một lối sống nằm bên ngoài thế tục, hay nói một cách khác là vượt lên trên mọi tranh chấp, chinh phục và tranh đua. Mục đích của Phật giáo không nhắm vào sự chinh phục mà chỉ hướng vào sự giải thoát. Vì thế đối với Phật giáo thì sự chiến thắng hay vinh quang không có ý nghĩa gì cả, mà có thể đấy chỉ là một cách nói phóng đại để làm tăng thêm phần hấp dẫn mà thôi. 
Bài báo khá xưa, được đăng trên một tạp chí lớn về thông tin và bình luận của Pháp là tờ L’EXPRESS, số ra ngày 30 tháng 7 năm 1998

Khi đọc lại một bài báo cũ, dĩ nhiên là chúng ta sẽ có thêm một lợi điểm mà tác giả không có, đấy là chiều sâu của thời gian. Dựa vào lợi điểm đó chúng ta có thể đánh giá xem những quan điểm nêu lên trong bài báo có vượt được thời gian hay không. Chỉ xin đơn cử một thí dụ cụ thể, tác giả cho biết là chính phủ Pháp thời bấy giờ công nhận con số Phật tử trong nước là 600 000 người, và năm vừa qua (2008) Bộ Nội vụ chính thức công nhận con số này là một triệu người. Tại sao một con số lại mang tính cách quan trọng như thế ? Bởi vì trong một thể chế dân chủ, vị trí, tiếng nói và quyền lợi của một tập thể do pháp luật bảo đảm luôn đi đôi và tương xứng với tầm vóc của tập thể ấy trong cộng đồng quốc gia. Các chi tiết và các quan điểm khác trong bài viết xin dành cho người đọc nhận định và phán xét. Dù sao thì bài báo cũng cho thấy một góc nhìn của người Tây phương về Phật giáo nói chung. Góc nhìn đó tất nhiên bị ảnh hưởng bởi văn hóa và giáo dục của họ, và cả bản tính cá nhân của từng người, vì thế không nhất thiết giống như cái nhìn của mỗi người trong chúng ta. Tìm hiểu một góc nhìn khác cũng là một cách giúp chúng ta xét lại và bổ khuyết tầm nhìn của chúng ta về một nền tín ngưỡng lâu đời của Á châu. 
 
Đây là một bài báo có thể dùng làm đề tài để suy tư về một tôn giáo đang mang lại nhiều tác động trong thế giới Tây phương, tuy nhiên ta cũng không nên chấp nhận toàn thể các quan điểm một cách máy móc. Tác giả có lối hành văn bóng bẩy và lắc léo khó dịch, nhiều quan điểm mang tính chủ quan và quá cứng nhắc, tuy nhiên dầu sao thì tác giả cũng đã thành công khi đưa ra nhiều góc nhìn khá bao quát và chính xác. Trong phần cuối của bài, trái lại ông đã thả lỏng cho sự chủ quan tung hoành vì thế có nhiều đoạn hơi quá tự tin và không được chính xác lắm. Những sơ xuất đó cũng cho thấy sự hiểu biết đôi khi còn phiến diện và thiếu sâu sắc của ông về Phật pháp. Dầu sao thì sự nhiệt tình và lòng hăng say tuôn ra từ ngòi bút của ông cũng thừa sức để bù đắp cho những khiếm khuyết nhỏ nhặt vừa kể. Bài viết dành cho độc giả Tây phương vì thế người dịch thiết nghĩ một vài chú thích nhỏ cũng có thể cần thiết để giúp người đọc theo dõi bài viết dễ dàng hơn. (Hoang Phong, 11.12.09





Phần lược dịch:
 
Hòa hợp giữa vô thần và tâm linh, thân xác và tâm thức, Phật giáo đã chinh phục được con tim của hàng ngàn người Pháp, tuy nhiên cũng không phải là không có những hiểu lầm.
 
Tuy rằng Phật giáo không nhất thiết sẽ bước vào thiên kỷ thứ III với tiếng kèn trống vang lừng, nhưng chắc chắc Phật giáo sẽ bước vào với tiếng kinh, câu kệ và những lời tụng niệm mà thế kỷ XX tưởng rằng đã có thể bóp ngạt được. Quả đúng là một sự phục thù, vâng đúng thực là một sự phục thù, một sự phục thù của tâm linh trước vật chất, của linh thiêng trước thuần lý, của suy tư trước sự tiêu thụ. Sự kiện trên đây quả thật là một sự ngạc nhiên kỳ  thú, đồng thời nó cũng báo trước một tình trạng khó tránh là những cảnh ngược đời sẽ có thể xảy ra. Dầu sao thì cũng không nên quá ngạc nhiên vì người ta đều hiểu rằng những gì tồi tệ vẫn thường xảy ra bên cạnh những gì tốt đẹp nhất. 
 
Có nhiều người mất hết cả định hướng, tìm cách an trú trong quá khứ hoặc đi tìm con đường Đạo mà cứ tưởng rằng địa cầu « nhỏ bé như một ngôi làng ». Thản nhiên, cuồng tín hay hòa đồng..., mỗi người mỗi cách, cứ thế mà họ tự vạch lấy cho mình một con đường xuyên qua những hành lang ngoắt ngéo trong chiếc tháp Babel (1) của thời hiện đại. Thế kỷ này đang mở ra không những để đón nhận những con người biết quay về với tôn giáo như trường hợp của họ, mà còn có trọng trách phải tu sửa lại toàn bộ nền tảng văn hóa và triết học mà nền văn minh Do-thái-giáo – Thiên-chúa-giáo phải đứng ra gánh chịu mọi chi phí.
 
Sự thức tỉnh của những con người biết trở về với tôn giáo không phải là một sự kiện tượng trưng cho sự chiến thắng của Jéhovah (2) mà ngược hẳn lại như thế thì đúng hơn. Ngày nay, tình trạng tương quan theo chiều ngang – tức mối tương quan bình đẳng giữa con người và thế giới –  đang thắng thế so với  mối tương quan siêu nhiên theo chiều dọc – tức là sự tùng phục trước một Đấng-Tối-Cao. Xuất hiện từ lâu đời, cái nền tôn giáo nhập cảng từ Á châu ấy không phải chỉ để quyến rũ giới tài tử phim ảnh đang bị khủng hoảng tâm linh mà thôi. Cái tôn giáo đó đã chinh phục được con tim của hàng ngàn người Pháp, mạnh cho đến mức mà chính quyền đã phải ước lượng con số Phật tử lên đến 600 000 người. Quả thật có đến hai sự nghịch lý đã xảy ra cho cái xứ sở tự nhận mình vừa là « quê hương của Ánh sáng » lại vừa là « người chị cả của Thiên chúa giáo ». Thật vậy, để giải thích cho những điều nghịch lý đó nhóm người theo Phật giáo đã đáp lại một cách thật ôn tồn : « Quả đúng như thế, tôn giáo của chúng tôi không hề chống lại chủ nghĩa duy lý và đạo Thiên chúa ». Có đúng thật như thế hay chăng ? Dư luận chung đều cho rằng quả là đúng như thế. Năm 1994, một cuộc thăm dò kết hợp hai tổ chức Sofres và Le Figaro (3) đưa ra con số hai triệu người Pháp xem Phật giáo là tôn giáo mà họ quý chuộng nhất.
 
Những người được thăm dò đã bày tỏ sự quý chuộng Phật giáo của họ, nhưng không nhất thiết đấy là một cách nêu lên ước vọng của họ được trở thành một Phật tử. Tuy nhiên phong trào mến chuộng Phật giáo có vẻ đang lan tràn rộng lớn, sự kiện đó có thể là do ranh giới của phong trào chưa được xác định rõ rệt. Nhiều người vẫn từng phát biểu rằng « Phật giáo ngự trị trong tim tôi » tuy nhiên họ vẫn chịu phép rửa tội Thiên chúa giáo, hay là vẫn còn giữ đức tin của Tin lành, hoặc tự nhận là đã lớn lên với truyền thống Do thái giáo. Nếu hiện nay đã có 10 000 người hay hơn thế nữa đang tu tập Phật giáo một cách chuyên cần mỗi ngày, thì đồng thời cũng có ít nhất 100 000 người khác lui tới các thiền viện và những nơi ẩn cư. Thêm vào đó còn có hàng ngàn người nhiệt thành hơn thế nữa và họ đang tu tập thiền định theo các truyền thống Phật giáo (Zen, Yoga, cách luyện tập thư giãn, dưỡng sinh, tu học Phật pháp, ẩn cư, y khoa êm dịu, shiatsu (trị liệu bằng xoa bóp và ấn huyệt) v.v...). Tổng kết có khoảng 150 000 người Pháp rất kiên trì. Để chứng minh cho đủ con số 600 000 Phật tử mà Bộ Nội vụ đã công nhận thì cần phải kể thêm các tập thể quan trọng người Á châu (phần lớn là người Việt-Nam) đang sinh sống một cách hài hòa trên đất Pháp. Thành phần nòng cốt đó đã tỏa sáng và ảnh hưởng sang những người Pháp chung quanh, nhất là nhờ vào những tấm gương cá nhân của họ.

Hình ảnh về một cuộc sống an vui bắt nguồn từ Phật giáo tỏa rộng ra như những vòng tròn đồng tâm, bao trùm cả một dân tộc được thừa hưởng một nền giáo dục cao. Thật ra sự truyền bá rỉ tai có tính cách chọn lọc đó đã liên kết với phong trào thiện cảm lớn lao mà các cơ quan truyền thông có tầm vóc toàn cầu đang quảng bá. Về khía cạnh này gương mặt của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma vụt trở thành một biểu tượng lớn. Hình ảnh một nhà sư tươi cười và đơn sơ, không vướng mắc vào những thứ trang sức màu mè đã chống lại và hóa giải hình ảnh của các nhà lãnh đạo thuộc vào ba tôn giáo lớn dựa trên Kinh Sách (Do thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo), hình ảnh của Đức Đạt-Lai lạt-Ma cũng đã dự phần không nhỏ vào sự lôi cuốn của Phật giáo. Hình ảnh hiền hòa, thanh thản và yêu đời của một nhà sư thể hiện qua sự trong sáng tỏa rộng ra chung quanh chính là loại hình ảnh mà các nhà lãnh đạo Thiên chúa giáo, Do thái giáo và Hồi giáo đôi khi đã đánh mất. Hình như Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đôi khi cũng tỏ ra ái ngại khi nhận thấy sự thành công của mình hơn hẳn so với các vị lãnh đạo các tôn giáo « cạnh tranh » khác.  Đúng hơn thì Ngài chỉ thừa hưởng một cách gián tiếp tình trạng vỡ mộng mà các tôn giáo độc thần già nua đã tạo ra mà thôi. Chính chỗ vỡ mộng đó là kho dự trữ quan trọng nhất cất giấu những niềm thiện cảm đối với Ngài.
 
Chống lại quyền bá chủ của Bà-la-môn 
 
Muốn tìm hiểu sự lớn mạnh của Phật giáo thì trước hết phải nhìn vào những góc cạnh yếu kém của hệ thống tư tưởng Tây phương. Tập san văn hóa Les Cahiers du Sud (4) trong một số đặc biệt phát hành năm 1940 với tựa đề « Thông điệp ngày nay của nước Ấn » đã đưa ra những lời phân tích thật trong sáng : « Cứ mỗi lần nền tư tưởng Tây phương rơi vào gọng kềm của mâu thuẫn thì nền tư tưởng đó lại tự hỏi là khoa học sẽ đưa về đâu trong tương lai, và mỗi lần như thế lại quay sang cầu cứu với Ấn độ, cha đẻ của mọi thứ huyền thoại và các trào lưu tinh thần ». Bài báo được đăng vào những ngày cuối cùng trước khi nước Pháp thất trận trước sự tiến quân của Đức quốc xã, và có lẽ vì thế mà chẳng có ai thèm để ý đến. Bỗng nhiên hôm nay bài báo lại tự khoác cho mình những giá trị của một lời tiên tri. Các nhân vật như Richard Gere (5), Jean-Claude Carrière (6), Matthieu Ricard (7) (con của thành viên Hàn Lâm viện Jean-Francois Revel (8)) đã trở thành Phật tử, đồng thời một số các nhân viên cao cấp bị khủng hoảng tâm thần, các giáo sư dạy toán bị bịnh trầm cảm, các bà thư ký ly dị chồng... và vô số những người khác nữa cũng đã trở thành Phật tử. Muốn hiểu tại sao lại xảy ra sự kiện đó thì có lẽ phải lên đường du hành sang quê hương của Đức Phật là Ấn độ để tìm lấy câu trả lời.
 
Khi Đức Phật ra đời vào khoảng 560 năm trước chúa Jêxu ở Ca-tỳ La-vệ (Kapilavashu), một nơi cách thành Ba-la-nại (Bénares) 240 kilomét, thì nước Ấn lúc đó còn đang bị một tôn giáo dựa vào kinh Vệ-đà  (9) thống trị. Nền tín ngưỡng đó được thiết lập dựa vào một bộ kinh mang tên là Vệ-đà (có nghĩa là sự hiểu biết), gồm sáu tập ghi chép những điều giáo lý căn bản viết bằng tiếng Phạn (một loại ngôn ngữ Ấn-Âu có cùng một nguồn gốc với ngôn ngữ I-ran). Một cách vắn tắt thì đấy là một thứ tôn giáo thật đơn giản : chỉ nhắm vào việc thực thi các nghi lễ hiến dâng hướng vào các vị trời để đổi lấy sự an bình và cứu rỗi. Tuy nhiên khi đã nói đến « hiến dâng » thì phải nói đến các người « giáo sĩ » đứng ra hiến dâng. Vì thế đã sinh ra một tầng lớp tăng lữ rất thế lực gọi là những vị Bà-la-môn, họ đứng ra tóm thâu quyền kiểm soát toàn thể xã hội Ấn. Để duy trì quyền lực đó họ đã thực thi những việc thật lố lăng là phân chia xã hội Ấn thành bốn giai cấp, và sự phân chìa chia này vẫn còn tồn tại đến ngày nay, quả thật đấy là một điều bất hạnh lớn lao nhất cho nước Ấn.
 
Chính vì muốn chống lại sự thống trị của Bà-la-môn mà Phật giáo đã khởi xướng (10). Trùng hợp với thời kỳ bành trướng của tôn giáo Vệ-đà, bản chất tâm linh vô cùng phong phú của nước Ấn đã làm phát sinh ra một sự tin tưởng rất phổ cập và đại chúng, ấy là thế giới ta-bà (samsara), và khái niệm này xuất hiện trước thời kỳ của Đức Phật rất lâu (11). Thế giới ta-bà là gì ? Chính là một thứ địa ngục siêu hình phát sinh từ giáo lý luân hồi. Nói thẳng ra là mỗi sinh linh đều phải trải qua một chuỗi dài bất tận gồm những chu kỳ hiện hữu tiếp nối nhau, mỗi kiếp sống cho một chu kỳ, mỗi kiếp sống của con người thuộc vào một trong những chu kỳ hiện hữu bất tận đó.
 
Tại sao con người lại phải gánh chịu sự tái sinh liên tục như thế ? Chính vì nghiệp, tức là hành động của mỗi người. Sự sống của ta hôm nay là kết quả phát sinh từ chính những hành động của ta trong sự hiện hữu trước đây. Lời Phật dạy như sau : « Con người hành động như thế nào thì sẽ tái sinh trong một kiếp sống tương ứng như thế ấy ». Nếu hôm nay đời tôi thật là khổ sở, có nghĩa là trong kiếp trước tôi đã làm những việc sai trái, và ngược lại. Nghiệp của tôi, tức hành vi của tôi hôm nay sẽ giữ một vai trò then chốt giúp cho tôi có thể tránh được hay không tránh được những khổ đau trong tương lai. Và giải pháp duy nhất giúp cho tôi tự giải thoát khỏi cái chu kỳ khắc nghiệt của luân hồi là phải tự tạo lấy cho mình một nghiệp tốt. Đức Phật nói rằng : « Chính là nghiệp sẽ phân loại con người thành cao cả hay thấp hèn ».
 
Một bên là quyền lực Bà-la-môn và một bên là hậu quả phũ phàng của nghiệp báo đã tạo ra một bối cảnh tôn giáo đầy lo sợ vào thời kỳ của Đức Phật. Vì thế mà Vị Hiền triết Vĩ đại của chúng ta đã tập trung tất cả suy tư và sự hiểu biết của mình để tìm ra con đường giải thoát.
 
Sinh ra trong một gia đình hoàng tộc họ Cồ-đàm, Đức Phật được vua cha đặt tên là Sĩ-đạt-ta (có nghĩa là người đã thực hiện được hoài bảo của mình). Ngài hưởng một cuộc sống đế vương, và theo truyền thuyết thì vua cha ra lịnh không có ai được phép để cho Ngài nhìn thấy những cảnh tượng khổ đau của con người. Tuy nhiên, sau bốn lần được ra khỏi hoàng thành và mặc dù đã được đoàn tùy tùng bảo vệ cẩn thận, Sĩ-đạt-ta vẫn bị chấn động sâu xa khi nhìn thấy bốn hình ảnh cực mạnh : một người già, một người bệnh, một xác chết, và hình ảnh thứ tư lại là một chiếc chìa khóa giúp ra thoát những thứ đớn đau đó, đấy là hình ảnh của một người tu hành.
 
Sĩ-đạt-ta từ bỏ hoàng cung, xa rời cả vợ lẫn con, để theo đuổi trong bảy năm liền cuộc sống khổ hạnh của những vị Bà-la-môn, tu tập theo cái lối « hành xác » mà sau này Ngài cho là quá « buồn chán, không đáng và vô ích ». Một tôn giáo chỉ biết đơn thuần chấp hành nghi lễ và tôn vinh thần thánh chẳng những không thể nào thuyết phục được Ngài, và nhất định cũng sẽ không thể nào giúp cho Ngài tìm thấy một lối thoát. Sau đó tại một nơi gọi là Âu-lâu-tần-loa (Uruvela) phía nam thị trấn Hoa-thị-thành (Patna) dưới một gốc cây bồ đề Ngài đã đạt được Giác ngộ (bodhi). Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm trở thành một vị Phật (vị Giác ngộ), khi đó Ngài được 35 tuổi. Ngài bắt đầu thuyết giảng về cái chân lý mà Ngài đã quán nhận được. Trong lần thuyết pháp đầu tiên, Ngài nêu lên khái niệm về « Tứ diệu đế » làm nền móng cho Đạo Pháp của Ngài, đấy là bài Thuyết giáo lừng danh nơi thành Ba-la-nại (Bénares).

Ngài đã nói lên như sau : « Này, hỡi các tỳ-kheo, đây là sự thực cao quý về khổ đau. Sinh là khổ đau, già là khổ đau, bệnh tật là khổ đau, chết là khổ đau, phải gánh chịu những gì mình không thích là khổ đau, phải xa lìa những gì mình yêu quý là khổ đau, không đạt được những gì ước muốn là khổ đau, năm thứ cấu hợp của sự bám víu là khổ đau ». Đó là Sự thật thứ nhất trong số Bốn Sự thật Cao quý. Sự thật thứ hai liên quan đến nguồn gốc của khổ đau, tức là « sự bám víu vào những thứ thích thú của giác cảm ». Sự thực thật thứ ba là sự chấm dứt khổ đau. Sau hết Sự thực thật thứ tư là con đường đưa đến chấm dứt khổ đau.
 
Sau lần thuyết pháp ấy và trong suốt hơn bốn mươi năm sau đó, Đức Phật đã liên tiếp thuyết giảng và thu nạp đồ đệ. Năm vị tu sĩ đầu tiên được nghe giảng đã đi theo bước chân của Ngài và sau đó đến lượt các đoàn người đông đảo cũng bước theo. Họ bị thu hút bởi một sự an bình thoát ra từ vị Thầy của họ và đang tỏa rộng chung quanh. Đức Phật tịch diệt lúc 80 tuổi và Ngài chỉ để lại cho các đệ tử một lời dặn dò duy nhất : « Tất cả các thành phần cấu hợp tạo ra con người đều phù du. Các con hãy chuyên cần tu tập để tự giải thoát lấy cho các con ». Tuy nhiên chúng ta cũng phải tự hỏi sự giải thoát ấy là gì ?
 
Đối với Đức Phật, không có vị Trời nào sáng tạo ra vũ trụ cả, không có thiên đường cũng chẳng có địa ngục,  chẳng có Vị nào cứu thế và cũng chẳng có Ai chết đi sống lại. Mọi sự hoàn toàn không phải thế. Phật giáo không quan tâm đến những chuyện siêu hình, không thắc mắc nguồn gốc của thế giới là gì, kể cả các khái niệm về tốt và xấu (12). Giáo lý của Đức Phật vô cùng thực tế, được xây dựng trên một sự nhận xét thật hiển nhiên : tất cả đều là khổ đau. Một sự yếm thế phủ nhận tất cả, kể cả khái niệm về linh hồn và vô hiệu hóa cả những nghi lễ mang tính cách tôn giáo. Trong bối cảnh mà Trời cũng không có, thì những chuyện thần bí, hiến dâng, thánh lễ, hoặc bất cứ một hình thức lễ lạc màu mè nào còn có giá trị gì nữa ? Sự giải thoát chỉ tùy thuộc vào hậu quả duy nhất của nghiệp và sự tu tập giúp thoát ra khỏi vòng khổ đau của thế giới ta bà. Đức Phật chủ trương vô thần (13), có thể nói là duy vật nữa. Giáo lý của Ngài chỉ nhắm vào một mục đích duy nhất : ấy là sự giải thoát.
 
Muốn đạt được sự giải thoát thì phải theo con đường « bát chánh đạo ». Con đường đó là : « hiểu biết đúng, suy nghĩ đúng, ngôn từ đúng, hành động đúng, sinh sống đúng, cố gắng đúng, chú tâm đúng và tập trung đúng » !

Nói thẳng ra nếu như Phật giáo không phải là một tôn giáo và cũng chẳng phải là một nền triết học, thì nhất định nó phải là một nền luân lý kỷ cương. Con đường cao quý của bát chánh đạo là bí quyết giúp con người vượt thoát khỏi sự ràng buộc của khổ đau, điều đó có nghĩa là tự mình phải nỗ lực. Theo lời dạy của Đức Phật thì tất cả mọi khổ đau của con người đều phát sinh từ « cái tôi ». Tuy nhiên trên thực tế thì cái tôi lại không có vì đấy chỉ là một ảo giác. Ngược lại với Thiên chúa giáo, đối với Phật giáo thì khái niệm về một cái tôi bất diệt, lệ thuộc vào một nguyên lý thiêng liêng của Vũ trụ phải được đánh đổ và hoàn toàn loại bỏ. Cái tôi có thể xem như là một hình thức đòi hỏi và thèm khát vô độ, và vì thế cái tôi sẽ áp đặt quyền lực của nó lên tất cả những hành động của chính ta, vì vậy phải làm cho nó câm miệng lại từ trong tận cùng của đáy lòng mình. Theo đúng con đường bát chánh đạo thì sẽ thực hiện được điều đó. Dứt bỏ được mọi sự thèm khát, mọi sự cầu xin và dục vọng bằng cách tuân thủ các giới luật kỷ cương mà Đức Phật đã chỉ dạy sẽ làm cho cái tôi tan biến.
 
Chấm dứt được sự thèm khát và dục vọng sẽ làm cho bộ máy tái sinh bất tận dừng lại và thế giới ta bà sẽ bị đánh tan. Khi đó ta sẽ đạt được « niết bàn chưa toàn vẹn » và sau cùng chỉ còn chờ tháo gỡ lớp vỏ bọc thân xác này của ta bằng cái chết để nhập vào « niết bàn hoàn hảo ».
 
Dung hòa giữa vô thần và tâm linh
 
Toàn bộ cấu trúc kỳ diệu về tâm linh của Phật giáo đã bám rễ thật sâu vào các nền văn hoá Ấn độ và Á châu và không thể tách rời ra được. Tuy thế nó vẫn hàm chứa tất cả các khía cạnh tân tiến cần thiết để thu hút người Tây phương. Cái « phẩm tính » cao hơn hết của Phật giáo – mà các nhà thần học Thiên chúa giáo tranh nhau lên án như là một thứ sơ hở tệ hại nhất – chính là sự khiêm tốn. Thật ra cũng chẳng cần phải biết ai đã đứng ra sáng tạo cái thế giới này và rồi nó sẽ đi về đâu : triết học siêu hình chỉ là một sự tự biện hoàn toàn vô ích. Đức Phật chỉ cần nêu lên một con đường giải thoát cho mỗi con người là đủ. Phẩm tính thứ hai của Phật giáo là khả năng hội nhập vào bất cứ bối cảnh tín ngưỡng nào. Vì lẽ không quan tâm đến Trời cho nên Đức Phật chỉ ngỏ lời với con người mà thôi, nhất là đối với những người vô thần và cả với những người đã tỏ ra nghi ngờ về hiệu quả các thánh lễ rửa tội cho họ (hai nhóm người này đều rất đông trong thế giới Tây phương). Tinh thần bao dung của Phật giáo được thiết lập trên căn bản hài hòa, không loại trừ bất cứ một nền tín ngưỡng mang tính cách thần khải nào cả, và tinh thần đó đã giúp cho Phật giáo phát triển trên những mảnh đất thấm nhuần Do-thái-giáo – Thiên-chúa-giáo. Ngoài ra, dù cho con đường bát chánh đạo có tỏ ra là một thứ kỷ cương quá khắt khe đi nữa, thì nó cũng chẳng nghĩa lý gì so với những giáo điều làm nền tảng cho đạo Thiên chúa. Thật thế, các giáo điều của Thiên chúa giáo đang phải cưỡng lại một cách khó khăn trước ngưỡng cửa của thiên kỷ thứ III...
 
Tự nhận là người Phật giáo có nghĩa là tu tập theo một tôn giáo không thờ trời, hoà đồng giữa vô thần và tâm linh, tự chọn lấy cho mình một nền tảng luân lý không mang sức ép của tội lỗi ! Như thế thì còn đòi hỏi gì hơn nữa ?
 
Đạt được sự trống không tuyệt đối
 
Tuy nhiên vẫn có thể làm hơn như thế. Cũng thật oái oăm, hình như thế giới Tây phương đã tìm thấy trong giáo lý của một trong số các tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại một sự trợ lực lớn lao để giúp chống lại sự phá sản của cả một nền văn minh tân tiến. Khả năng của khoa học tỏ ra rất giới hạn, nhất là thuộc phạm vi con người, và sự kiện đó đã làm phát sinh sự mất tự tin tập thể trong xã hội ngày nay. Bệnh sida tung hoành nhất định là một yếu tố tiếp tay cho xu hướng đó. Thật vậy, từ nguyên thủy Phật giáo đã thiết lập một phương pháp giúp hội nhập với niết bàn xuyên qua thể dạng thăng bằng của thân xác và tâm linh. Điều kiện tiên quyết và tất yếu của thiền định là phải đạt được một thể dạng trống không tuyệt đối, và muốn đạt được thể dạng đó phải luyện tập du già và tuân thủ các quy tắc dinh dưỡng khắt khe. Mọi người đều biết nước Pháp là một quốc gia đạt kỷ lục thế giới về việc sử dụng thuốc an thần, chính vì thế mà lối sống vô cùng tinh khiết của Phật giáo đã chinh phục một cách mạnh mẽ cả xứ sở này. Phật giáo chủ trương khái niệm về một thể dạng trống không trong nội tâm nhất định sẽ hứa hẹn một sự thành công rực rỡ trong các nền văn minh đô thị ngày nay.
 
Giống như trường hợp vừa kể, hình như Phật giáo cũng đã mang lại một giải pháp thay thế cho ngành phân tâm học già nua của Tây phương. Trong khi các công cuộc nghiên cứu của Freud (14) giúp cho con người đi sâu vào chính mình thì Đức Phật lại dạy chúng ta phải làm thế nào để ra thoát khỏi chính chúng ta. Sự kiện có nhiều người Tây phương lui tới các trung tâm thiền học Zen đã chứng tỏ sự thất vọng của họ đối với ngành phân tâm học của Tây phương. Sau hết phải nói đến tính chất sâu sắc của Phật giáo đã chinh phục được các triết gia. Chẳng hạn như trường hợp của André Comte-Sponville (15), tác giả của một quyển sách bán chạy như tôm tươi mang tựa đề Tập luận nhỏ về những Phẩm tính Đạo đức Lớn (Petit Traité des Grandes Vertues), và gần đây hơn là một quyển sách khác của ông với tựa đề Trí tuệ của những con người tân tiến (La Sagesse des modernes ) viết chung với ông Luc Ferry (16), quyển sách thứ hai này đã gây ra nhiều chấn động trong dư luận. Ông là một triết gia vô thần nhưng lại tự chọn cho mình một đường hướng chủ trương « sự yếm thế vui tươi » mà Đức Phật đã quảng bá. « Không ước mơ gì cả, cũng chẳng cầu xin gì cả, ấy chính là con đường mang lại hạnh phúc », đấy là quan điểm của André Comte-Sponville. Ông không hoàn toàn tin vào  thuyết luân hồi – và đó cũng là điều duy nhất trong Phật giáo đòi hỏi phải có một sự tin tưởng nào đó – tuy nhiên ông vẫn tự cho mình là « một người tân Phật giáo » (néobouddhiste). Về phần con đường bát chánh đạo thì ông đã đem ra sử dụng để xây dựng toàn bộ những « Phẩm tính Đạo đức Lớn » trong tập luận giải của ông. Theo giáo lý của Đức Phật thì những gì tốt đẹp thoát ra từ lòng từ bi, tình nhân ái đối với tất cả chúng sinh (kể cả thú vật) sẽ giúp cho con người đạt được thể dạng sâu xa của nhập định, và thể dạng đó tương tự như đang ngồi chờ trong một gian phòng trước khi có thể hội nhập với niết bàn. Gian phòng đó tượng trưng cho nền đạo đức mà André Comte-Sponville đã chủ trương khi ông cố tình đặt niết bàn sang một bên.
 
Bất cứ ai cũng đều có thể nhận thấy là sự kiện trên đây đã chứng tỏ một cách hùng hồn khía cạnh yếu kém của các ngành triết học hiện đại. Tóm lại, dù sao đi nữa thì ít ra chúng ta cũng có thể khẳng định là những gì vay mượn đại loại như trường hợp vừa kể không phải là một sự « phát minh mới mẻ » của triết học Tây phương. Cũng không đến nỗi khó khăn gì để nhận thấy những đường hướng tốt đẹp do Phật giáo mang lại đã bồi đắp cho những khiếm khuyết của nền tư tưởng phương Tây.



 
Sự vĩnh hằng của Thiên chúa giáo cần phải xét lại
 
Mặc dù đã hội đủ những điều kiện để thành công, tuy nhiên Phật giáo vẫn còn quá gần với vài chuyện huyễn hoặc có tính cách dân gian. Chỉ cần đơn cử một vài thí dụ trong số những gì mâu thuẫn rất phổ biến trong xã hội Tây phương. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy sự cả tin vào các chuyện tái sinh ngày càng lan rộng một cách mạnh mẽ (kể cả các người Pháp tự nhận là người Thiên chúa giáo trung kiên). Chuyện tái sinh có vẻ được công nhận như một sự kiện hiển nhiên trong quảng đại quần chúng, người ta xem đó như là một dịp may để được sống thêm nhiều kiếp. Tóm lại đấy chỉ là một hình thức vĩnh hằng của Thiên chúa giáo được xét lại theo đướng lối của Phật giáo. Tuy nhiên phải hiểu rằng sự tái sinh đối với Phật giáo có nghĩa là rơi vào địa ngục (những chu kỳ hiện hữu thuộc vào thế giới ta-bà) ! Phải say mê Phật giáo nhiều lắm mới có thể quan niệm theo cách đó, tức là phải đủ sức phát biểu ngược lại với những gì cần phải hiểu...
 
Đại loại sự mâu thuẫn như trên đây cũng thấy xuất hiện đối với khái niệm về niết bàn. Người ta vơ đũa một cách bất cập giữa thiên đường của người Thiên chúa giáo và thể dạng hoàn thiện do sự tu tập kiên trì của Phật giáo mang lại. Chữ « niết bàn » có nghĩa là « sự dập tắt », đó là thể dạng trống không, sự chấm dứt của khổ đau bằng sự tan biến của hiện hữu. Đấy là những gì trái ngược hẳn với thiên đường, nơi đó người ta tiếp tục sống trong phúc hạnh vĩnh hằng.
 
Sau hết, có nhiều người say mê Phật giáo thuộc loại « siêu hiện đại » tuyên bố rằng họ bị thu hút bởi những nghi lễ của Phật giáo Tây tạng, như thế chẳng phải là nghịch lý lắm hay sao ? Phật giáo Tây tạng là một nhánh Phật giáo thần bí, gọi là Kim cương thừa hay Tan-tra thừa (xem giải thích bên dưới). Nhánh Phật giáo đó mang nặng nhiều nghi thức lễ bái – vì thế đã trở thành một tôn giáo với đầy đủ ý nghĩa của nó – và tự đặt mình trong một vị thế cá biệt – tức là dưới quyền tối cao của một vị Đạt-Lai Lạt-Ma – vì thế nền tôn giáo của người Tây tạng đã đi rất xa so với những lời giảng huấn nguyên thủy của Đức Phật. Nền tôn giáo đó hàm chứa tính cách kỳ diệu, siêu nhiên, đòi hỏi những nghi thức thụ pháp lâu dài. Ngoài ra sự tái sinh của một vị Lạt-Ma quá cố cũng là một khía cạnh ngoạn mục. Có những phương pháp giúp khám phá một đứa bé hóa thân của một vị Lạt-Ma đã sống trước đây. Người ta xác nhận đứa bé đúng là hóa thân của vị Lạt-Ma nhờ vào các sự kiện xảy ra lúc đứa bé chào đời, hoặc dựa vào những hành động kỳ diệu và khác thường của đứa bé. Thật rõ ràng là tất cả các tập tục đó rất thích hợp để dựng thành phim, chẳng hạn như bộ phim Đức Phật Nhỏ (Little Buddha) của Bernardo Bertolucci, Bảy năm trên Tây Tạng của Jean-Jaques Annaud, và gần đây hơn là phim Kundun của Martin Scorsese. Dù sao thì đấy cũng là một trong các bằng chứng của hiện tượng « mê say Phật giáo quá độ » (17). Có phải người ta đã từng thấy những người Thiên chúa giáo thất vọng vì không được dự thánh lễ cử hành bằng tiếng la-tinh (18) nên đã chuyển sang Phật giáo Tây tạng, chỉ vì nền Phật giáo này thực thi những nghi thức lễ bái.
 
Sự kiện theo về với Phật giáo không nhất thiết bởi vì Phật giáo đã đáp ứng được những đòi hỏi của lý trí. Có được mấy tín đồ mới gia nhập hiểu rằng Đức Phật không muốn bãi bỏ chế độ giai cấp bất công (19). Có được bao nhiêu người thuộc giới nghệ sĩ và diễn viên màn ảnh từng say mê « học phái Tây tạng » biết Đức Phật phát biểu như thế nào về người phụ nữ ? Khi người đệ tử A-nan-đà hỏi vị Thầy như sau : « Thưa Ngài phải giữ thái độ như thế nào đối với người đàn bà ? ». Đức Phật trả lời như sau : « Hãy tránh đừng nhìn thấy họ ». A-nan-đà lại hỏi « Nhưng lỡ ra nhìn thấy họ thì phải làm sao ? ». Đức Phật trả lời : « Không nên nói chuyện với họ . An-nan-đà lại hỏi : « Nhưng nếu phải tiếp chuyện với họ thì sao ? ». Phật liền bảo ngay : « Nếu thế thì phải canh chừng lấy chính mình... » (20).
 
Nhất định là mỗi Phật tử sẽ dựa vào các quan điểm riêng của mình để tự chọn lấy một vài khía cạnh giáo lý nào đó của Phật giáo thích hợp với mình. Dầu sao đi nữa thì Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng chưa bao giờ khuyên người Âu châu hãy đổi đạo. Ngài biết rõ là có cả một đại dương ngăn cách giữa hai nền văn hóa.
 
Một nền luân lý thụ động
 
Toàn bộ giáo lý của Đức Phật đều cho rằng khổ đau của con người phát sinh từ sự  « mong muốn được sống » vĩnh cửu. Trong thế giới Tây phương ngày nay thì chính cái cảm tính tham sống triền miên như thế đang lan tràn, nhất là nhờ vào tuổi thọ trung bình ngày càng tăng thêm. Hơn nữa trên phương diện hành động (chẳng hạn như các tổ chức nhân đạo, công tác xã hội...) thì Phật giáo đã không theo kịp trong các xã hội hậu kỹ nghệ của chúng ta. Vì muốn lột bỏ tính chất hiện thực khoác lên mọi vật thể trong thế giới này bằng cách hướng vào sự quán tưởng nội tâm như là một thứ giấy thông hành để đạt được giải thoát, cho nên Phật giáo đã quy nạp một thứ luân lý thụ động. Mặc dù Phật giáo không áp đặt một thứ gì cả (ngược lại với nền văn hóa Do-thái-giáo – Thiên-chúa-giáo), nhưng Phật giáo nghiêng nhiều về sự khuyên bảo nên tránh không được gây ra đau khổ hơn là phải thực thi những điều tốt lành. Đấy là một hình thức vô cảm trước khổ đau của thế giới này, sự vô cảm đó bàng bạc trong Phật giáo và được xem như là điều kiện mang lại sự trong sáng (21). Quả thật điều đó chẳng có gì phù hợp với quan niệm của phương Tây. Muốn hiểu được Phật giáo và sống với Phật giáo phải biết lắng sâu vào Phật giáo, không phải chỉ tham gia vào một chuyến du ngoạn ở Hy-mã lạp-sơn là đủ. Số Phật tử thuộc giới nghệ sĩ nổi tiếng hội nhập thành công với Phật giáo rất ít. Trường hợp của ông Matthieu Ricard rất hiếm, có rất ít người Pháp đã dấn thân đến cùng trong việc tu tập như thế. Thật vậy, ông là một nhà sư sống trên Tây tạng (22) và là thông dịch viên chính thức của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma mỗi khi Ngài đến Pháp. Ông là con trai của Jean-Francois Revel. Hình như ông Matthieu Ricard cũng không che dấu hết được những nỗi vui mừng của mình khi nhìn thấy « làn sóng say mê Phật giáo » đang bành trướng trên quê hương gốc của ông.
 
Tuy không được hội nhập một cách đúng đắn, Phật giáo vẫn cho thấy một sức thu hút lớn lao. Chỉ còn chờ xem nền tín ngưỡng già nua Thiên chúa giáo có quyết tâm hành động để chống lại hay không (23), vì nền tôn giáo đó vẫn cho thấy còn sót lại một vài khả năng ngoạn mục – chẳng hạn như Ngày quốc tế cho tuổi trẻ (Journées mondiale de la jeunesse) được tổ chức vào mùa hè 1997 tại Paris (24). Nhà thần học Thiên chúa giáo là Romano Guardini (25) tỏ ra có lý khi ông tuyên bố rằng Đức Phật là một « thiên tài cuối cùng trong lãnh vực tôn giáo mà nền văn minh Thiên chúa có lẽ còn phải đối đáp » (« le dernier génie religieux avec lequel la civilisation chrétienne aura à s’expliquer »).
 
Hãy can đảm lên và nguyện cầu !
 

Câu niệm chú Om mani pad me hum là lời nguyện cầu bất tận của xứ Tây tạng. Tuy rằng người ta không hiểu ý nghĩa là gì (26), nhưng câu thần chú này hàm chứa một sức mạnh siêu nhiên. Do đó cần phải tụng niệm suốt ngày. Để có thể giúp cho nhịp độ trì tụng nhanh hơn, các nhà sư Tây tạng đã sáng chế ra những chiếc cối xay để tiếp sức, trên mỗi cối xay có 12 tờ giấy, trên mỗi tờ giấy có chép 2460 câu niệm chú. Vì thế chỉ cần quay một vòng cối xay cũng đã làm phát ra 29 520 câu trì tụng. Quả là một kỷ lục thế giới... (27)


Phần ghi chú của tác giả : 
Ba cỗ xe của Phật giáo là ba trường phái hình thành từ giáo lý của Đức Phật :
- Cỗ xe Lớn, còn gọi là Mahayana là trường phái dựa vào các kinh sách xuất hiện muộn gọi là su-tra. Theo các kinh sách này thì Đức Phật không nhất thiết chỉ là sự tượng trưng của thân xác vật chất và những lời giáo huấn của Ngài. Phật đối với trường phái này đã trở thành một  thể dạng tinh anh hàm chứa trong tất cả chúng sinh. Đại loại Niết bàn cũng được xem như một khái niệm tương tự như cách suy luận trên đây. Trường phái này được truyền bá sang Trung quốc, Triều Tiên và Nhật bản.
- Cỗ xe Nhỏ, còn gọi là Hynayana, là một trường phái tôn trọng tuyệt đối các lời giảng nguyên thủy mà Đức Phật đã truyền dạy các đồ đệ của Ngài. Phương pháp tu tập lý tưởng nhất của trường phái này đòi hỏi người tu hành phải xuất gia và phải tuyệt đối noi theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Trường phái này phát triển trong các vùng Đông Nam Á, như Kampuchia, Việt Nam, Thái lan và Sri Lanka.
- Cỗ xe Kim cương, còn gọi là Tan-tra hay Vajrayana, đúng ra đây chỉ là một chi phái của Cỗ xe Lớn, mang tính cách bí truyền. Sự tu tập dựa vào phương pháp nhập định sâu xa và nhất là cần phải có một người Thầy để thụ giáo. Đó là nền Phật giáo của Tây Tạng và Mông cổ. 



 
Chú thích của người dịch:
1- Theo truyền thuyết Do Thái giáo và Thiên chúa giáo thì con người đứng ra xây dựng ngọn tháp Babel dự trù sẽ chạm đến trời cao, nhưng Thượng đế đã phá hỏng dự tính này để trừng phạt sự ngạo mạn của họ.
2- Jéhovah là tên gọi của Thượng đế.
3- Sofres là viện thăm dò dư luận lớn nhất của Pháp. Figaro là một tờ báo khuynh hữu lâu đời và rất uy tín. Cả hai hợp tác để thống kê hai nhóm người : theo Phật giáo và có cảm tình với Phật giáo.
4- Les Cahiers du Sud là một tạp chí văn học do văn hào Pháp Marcel Pagnol thành lập từ năm 1914 quy tụ những cây bút nổi tiếng nhất của Pháp trong thế kỷ XX, tuy nhiên đến năm 1966 thì ngưng phát hành vì hình như không còn đủ sức cạnh tranh với hiện đại.
5- Richard Gere sinh năm 1949 là một tài tử màn ảnh nổi tiếng của Mỹ. Năm 1970 trong một chuyến du hành Á châu ông khám phá được Phật giáo và ý thức được sự hoàn cảnh đau thương của nước Tây tạng đang bị chiếm đóng. Đến năm 1980 ông nhất quyết bỏ đạo Tin lành Methodism (Giám lý) để quy y và đã trở thành một Phật tử vô cùng năng động và tích cực. Ông cũng là một ngưởi bạn bên cạnh Đức Đạt-Lai Lạt-Ma.
6- Jean-Claude Carrière sinh năm 1931 là một nhà văn, nhà dựng kịch và phim ảnh, xuất thân từ các trường nổi  tiếng của Pháp, chẳng hạn như Ecole Normale Supérieure. Ông viết rất nhiều sách, đã từng đạo diễn và viết hàng nhiều chục chuyện phim, và kịch bản. Ông là một Phật tử trung kiên.
7- Matthieu Ricard là một nhà sư Phật giáo đã từng tu học ở Tây tạng và Népal. Ông là một gương mặt Phật giáo mà nhiều người biết tiếng.
8- Jean-Francois Revel (1926-2006) là một triết gia, bình luận gia, học giả và triết gia, thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp. Ông là cha của nhà sư Matthieu Ricard, nhưng vì hai cha con đều nối tiếng nên ông đành chọn một tên khác.
9- Vệ-đà (Veda) là bộ kinh xưa nhất của đạo Bà-la-môn gồm có những câu thần chú và những bài hát mang tính cách thiêng liêng dùng để xướng lên trong khi thực thi những nghi lễ hiến dâng.
10- Ý nghĩa của câu này không được đúng lắm vì Phật giáo trong suốt lịch sử phát triển không hề chủ trương chống lại một quyền lực hay một chủ thuyết nào cả. Phật giáo chỉ đưa ra một lối sống cá biệt, xây dựng chung quanh một hệ thống triết học đặc thù, hàm chứa một chủ đích thật cao cả, vượt lên trên tất cả các trào lưu tư tưởng và tín ngưỡng khác. Phật giáo phát triển trùng hợp với phong trào cải tiến của đạo Bà-la-môn khi nền tín ngưỡng này đưa ra các bộ kinh mới gọi là Upanisad thay cho kinh Vệ-đà. Tóm lại không nên xem sự hình thành của Phật giáo như là một cuộc cách mạng chống lại một quyền lực khác, giống như cuộc cách mạng 1789 của Pháp chẳng hạn. Tuy nhiên người ta vẫn có thể xem sự hình thành của Phật giáo đã đánh dấu một mức phát triển cao độ và khác thường của tư tưởng nhân loại. Cho đến ngày nay chưa có một hệ thống tư tưởng thâm sâu và mạch lạc nào có thể thay thế được.
11- Khái niệm về ta-bà trong đạo Bà-la-môn và trong Phật giáo khác hẳn nhau. Nói chung thì Phật giáo dùng lại một số các từ đã có từ trước trong đạo Bà-la-môn chẳng hạn như dharma, karma..., nhưng ý nghĩa thì hoàn toàn khác hẳn.
12- Tốt hay xấu có tính cách tương đối, biến đổi tùy theo quan niệm (sự chủ quan, cách cảm nhận sai lầm...) và bối cảnh (lịch sử, văn hóa, giáo dục...). Câu nệ vào khái niệm tốt hay xấu, tìm cách phân biệt và tranh luận là một hình thức bám víu.
13- Các thần linh trong Phật giáo Á châu là những phương tiện tu tập chịu ít nhiều ảnh hưởng từ các nền văn hóa địa phương. Các thần linh chỉ mang tính cách trợ lực và giai đoạn. Đạt được một cấp bậc tu tập nào đó thì hình bóng các vị thần linh sẽ phải mờ dần để nhường chỗ cho ánh sáng của trí tuệ. Người Tây phương nhìn trực tiếp vào bản chất vô thần của Phật giáo, trong khi đó nhiều người Á châu lại dừng lại ở cấp bậc thần linh và không chịu đi xa hơn để tìm hiểu những lời giáo huấn trong Đạo pháp.
14- Sigmund Freud (1856-1939) là cha đẻ của ngành phân tâm học hiện đại.
15- André Comte-Sponville sinh năm 1952 là một triết gia khá nổi tiếng, giảng dạy tại đại học Sorbonne, xuất bản nhiều sách và viết báo cũng nhiều. Một số người xem ông là một người « gần » với Phật giáo, một số khác lại cho ông là một « người thiên chúa giáo vô thần ».  Năm vừa qua (2008), chính phủ Pháp mời ông gia nhập với tư cách thành viên trong ủy ban tư vấn của chính phủ về các vấn đề Đạo đức. 
16- Luc Ferry sinh năm 1951 là một triết gia, cựu bộ trưởng giáo dục, cháu nội của ông Jules Ferry (1832-1893) từng là bộ trưởng và chủ tịch quốc hội Pháp và là người đã tranh đấu để tách rời nhà Thờ ra khỏi trường học. Nét chính trong tư tưởng của Luc Ferry là Triết học chỉ có thể nẩy nở và mang ý nghĩa toàn vẹn khi nào tách rời khỏi khái niệm về Thượng đế. 
17- Đây là cách nhìn quá sức duy lý (hay duy vật) của một vài người Tây phương thiếu thận trọng. Khái niệm về sự tái sinh trong Phật giáo Tây tạng đòi hỏi sự tu tập và nghiên cứu tường tận và sâu xa mới thấu triệt và nắm bắt được. Thiết nghĩ cũng không cần nêu ra đây, và có lẽ cũng quá dài dòng để thảo luận trong khuôn khổ của một lời ghi chú.
18- Trong nghi thức hành lễ ngày nay, Thiên chúa giáo được nhà thờ La mã cho phép dùng các ngôn ngữ hiện đại và phổ thông tùy theo địa phương và quốc gia. Tuy nhiên xu hướng bảo thủ vẫn chủ trương phải dùng tiếng la-tinh để cử hành thánh lễ.
19- Hoàn toàn không hiểu được là tác giả đã căn cứ vào kinh sách nào để khẳng định điều này.
20- Tác giả không hiểu ý nghĩa và mục đích của mẫu chuyện đối thoại của Đức Phật và A-nan-đà. Ngụ ý của các lời khuyên của Đức Phật là cố tránh những phiền phức gây ra do sự tiếp xúc và lân la giữa người tu hành và phụ nữ, nhưng tuyệt nhiên không có tính cách kỳ thị nam nữ. Đối với giáo lý nhà Phật, tất cả chúng sinh đều ngang hàng nhau, đều hàm chứa Phật tính như nhau, kể cả hàng súc vật.
21- Những gì tác giả vừa trình bày chứng tỏ tác giả không hiểu một tí gì về Từ bi trong Phật giáo. Lòng từ bi của Phật giáo trải rộng ra đến tất cả chúng sinh và lý tưởng của người Bồ-tát là quên mình và hy sinh tất cả đời mình cho chúng sinh. Sự bố thí của Phật giáo rất sâu xa và toàn vẹn, từ những phương tiện vật chất (tài thí), sự an ủi và che chở (vô úy thí), cho đến sự hiểu biết và giải thoát (Pháp thí). Người Phật tử bố thí không cần biết là mình đang bố thí, bố thí cái gì và bố thí cho ai. Đó là tính cách bất vụ lợi tuyệt đối trong cử chỉ bố thí của họ. Bố thí trong chủ đích khuyến dụ và vụ lợi không phải là Từ bi. Đối với Phật giáo Từ bi phải đi đôi với Trí tuệ. Bố thí không Trí tuệ không có hiệu quả gì cả và chỉ là cách gây thêm vướng mắc và khổ đau một cách kín đáo mà thôi. 
22- Đúng hơn ông sống trong một tu viện ở xứ Nepal và thường đi thuyết giảng khắp nơi trên thế giới, kể cả Trung quốc và Hoa kỳ. 
23- Tất nhiên là có, từ thế kỷ XIX cho đến nay, dưới những hình thức rất tinh vi. Chẳng qua đấy là những phản ứng tự nhiên để bảo vệ đức tin và nền văn hóa lâu đời của họ. Người tu tập cần phải hiểu điều đó để nhìn vào hướng khác.
24- Ngày quốc tế cho tuổi trẻ (JMJ) là phong trào quy tụ tuổi trẻ khắp nơi trên thế giới, mỗi lần tổ chức cách nhau hai hay ba năm tại một thành phố lớn trong các quốc gia theo Thiên chúa giáo trên thế giới, trong mục đích « trẻ trung hóa » tín ngưỡng và vận động sự hăng say của tuổi trẻ. Mỗi lần tổ chức đều gây ra một gánh nặng về tài chính cho giáo hội và hình như mỗi năm mỗi yếu dần (?).
25- Romano Guardini (1885-1968) gốc người Đức, là một nhà thần học, triết gia và lý thuyết gia lớn nhất trong thế kỷ XX của nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã, được phong chức hồng y giáo chủ.
26- Nghĩa của câu này là « Om, ngọc quý trong hoa sen ». Chữ Om không có nghĩa, tuy nhiên âm hưởng  của vần Om cùng với toàn bộ câu niệm chú khi xướng lên sẽ mang tính cách rất thiêng liêng. 
27- Chỉ có người tụng niệm mới nghe thấy tiếng tụng niệm của mình mà thôi, vì nó phát ra từ đáy tim mình, tạo ra những âm hưởng lan rộng và tràn ngập trong lòng mình. Không có ai nghe và cũng không có ai đếm để xem ta trì tụng được bao nhiêu lần để mà khen thưởng. Cái cối xay chỉ là một trợ lực bên ngoài dùng để cụ thể hóa ước vọng được trải rộng ra tám phương trời những hạt giống từ bi hiển lộ trong tim mình. 
 
Bures-Sur-Yvette, 11.12.09
Hoang Phong